
Luật Chuyển đổi số, có hiệu lực từ ngày 1/7, được kỳ vọng sẽ bổ sung mảnh ghép còn thiếu trong hệ thống pháp luật, tạo ra một khung pháp lý thống nhất cho quá trình xây dựng quốc gia số. Luật này được Quốc hội thông qua vào tháng 12/2025, đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành đạo luật riêng về chuyển đổi số, thay vì chỉ điều chỉnh nội dung này rải rác trong nhiều luật chuyên ngành.
Theo cơ quan soạn thảo, nhiều năm qua Việt Nam đã đẩy mạnh chuyển đổi số và từng bước hình thành hành lang pháp lý thông qua các đạo luật như Luật Giao dịch điện tử, Luật Viễn thông, Luật Công nghiệp công nghệ số… Tuy nhiên, những quy định này được đánh giá là vẫn mang tính rời rạc, thiếu một cấu trúc chung để hệ thống hóa các quan điểm và định hướng tổng thể về quốc gia số. Luật Chuyển đổi số, với 8 chương và 48 điều, được thiết kế theo hướng "luật khung", kết nối các quy định chuyên ngành hiện có và bổ sung những phần còn trống như kinh tế số, xã hội số và hạ tầng chuyển đổi số.
Một trong những điểm nổi bật được Cục Chuyển đổi số quốc gia nhấn mạnh là lần đầu tiên Việt Nam có một hệ thống khái niệm thống nhất, đầy đủ về chuyển đổi số ở tầm luật. Trước đây, nhiều thuật ngữ, định nghĩa liên quan được sử dụng phổ biến trong chính sách và thực tiễn nhưng chưa có cơ sở pháp lý chung để tham chiếu, dẫn đến cách hiểu và cách áp dụng không đồng nhất giữa các bộ, ngành, địa phương. Luật mới không chỉ làm rõ khái niệm mà còn xác định cụ thể thế nào là hoạt động chuyển đổi số, qua đó tạo căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước tổ chức triển khai.
Trên nền tảng hệ thống khái niệm thống nhất, luật thiết lập các công cụ điều phối quy mô quốc gia như Chương trình chuyển đổi số quốc gia, khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, khung quản trị dữ liệu, khung năng lực số và bộ chỉ số thống nhất. Các công cụ này được xem là nòng cốt để điều phối liên ngành, liên cấp, xử lý những vấn đề vượt ra ngoài phạm vi của từng luật chuyên ngành, từ phát triển hạ tầng số, thúc đẩy kinh tế số đến mở rộng xã hội số. Với việc khung pháp lý được hoàn thiện ở cấp luật, quá trình hoạch định và triển khai chính sách chuyển đổi số dự kiến sẽ có sự nhất quán hơn, giảm chồng chéo và tạo nền tảng pháp lý rõ ràng cho cả khu vực công lẫn khu vực tư nhân.
![]()
UBND TP.HCM vừa phê duyệt ranh giới lập quy hoạch 5 khu vực phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) xung quanh các nhà ga thuộc tuyến metro số 2 Bến Thành – Tham Lương. Tổng diện tích quy hoạch hơn 930 ha, bao phủ 10 nhà ga và khu depot Tham Lương, tạo hành lang đô thị mới kéo dài từ lõi trung tâm đến cửa ngõ Tây Bắc thành phố. Quyết định này được xem là bước chuẩn bị quan trọng về không gian đô thị trước khi tuyến metro gần 11,3 km, phần lớn đi ngầm, dự kiến hoàn thành vào năm 2030.
Theo các quyết định đã ban hành, khu TOD trung tâm gắn với ga Bến Thành và ga Tao Đàn có diện tích khoảng 188,6 ha, nằm trong khu lõi đô thị, kết nối trực tiếp với các trục giao thông chính và không gian công cộng quan trọng. Khu vực thứ hai, rộng hơn 265 ha, bao quanh các ga Dân Chủ, Hòa Hưng, Lê Thị Riêng, Phạm Văn Hai và Bảy Hiền, trải dài qua nhiều quận trung tâm và được định hướng khai thác hiệu quả quỹ đất, tăng cường kết nối giao thông công cộng.
Khu vực TOD thứ ba tập trung quanh ga Nguyễn Hồng Đào với quy mô gần 44 ha, trong khi khu vực thứ tư rộng gần 149 ha bao gồm các ga Bà Quẹo, Phạm Văn Bạch và Tây Thạnh, được xác định là đoạn phía Tây tuyến metro số 2, gắn với các hoạt động kinh tế, công nghiệp và logistics. Khu vực lớn nhất là ga và depot Tham Lương với diện tích gần 293 ha, được quy hoạch trở thành tổ hợp giao thông – kỹ thuật kết hợp không gian đô thị hỗn hợp, đóng vai trò đầu mối mới ở cửa ngõ Tây Bắc TP.HCM.
UBND TP.HCM lưu ý ranh giới các khu TOD có thể được điều chỉnh trong quá trình nghiên cứu lập quy hoạch nhằm phù hợp điều kiện thực tế và cơ sở pháp lý của các dự án liên quan. Trên cơ sở ranh quy hoạch đã được phê duyệt, Ban Quản lý phát triển đô thị thuộc Sở Quy hoạch – Kiến trúc được giao phối hợp đơn vị tư vấn khảo sát hiện trạng, tổ chức lập quy hoạch chi tiết trong thời hạn bốn tháng, sau đó trình cơ quan có thẩm quyền thẩm định và phê duyệt theo quy định.