
Clark Freeport Zone has broken ground on a ₱674-million wastewater treatment facility designed to keep critical sanitation infrastructure in step with the area’s rapid commercial buildout. The 10-million-liter-per-day (MLD) plant will expand the existing Clark Centralized Wastewater Treatment Facility, bolstering capacity for both current locators and incoming investors in the former air base, now one of Luzon’s key economic hubs.
The project is being implemented by Clark Water Corp. in partnership with Clark Development Corp. (CDC), which manages the Clark Freeport Zone and Clark Special Economic Zone spanning Pampanga and Tarlac. CDC President and Chief Executive Officer Agnes VST Devanadera framed the expansion as central to Clark’s long-term strategy, linking it to the zone’s positioning as a “gateway to the Luzon Economic Corridor.” She underscored that while wastewater systems are largely out of sight, they underpin public health, environmental protection and, ultimately, investor confidence.
To meet rising demand and tighter environmental standards, the new facility will deploy Sequencing Batch Reactor (SBR) technology with Biological Nutrient Removal (BNR). An SBR is a fill-and-draw activated sludge system that processes wastewater in batches within a single tank, cycling through fill, react, settle and draw phases. This configuration allows BNR — the use of specialized microbes to remove nitrogen and phosphorus — to be integrated without separate secondary clarifiers, a setup aimed at improving treatment efficiency and regulatory compliance.
Manila Water Chief Operating Officer for the Non-East Zone Melvin Tan said the additional 10MLD capacity is intended not only to address current sewerage needs in the Clark Freeport Zone but also to ensure that future developments can be supported without straining sanitation services. CDC officials said the project followed technical studies and coordination to match the treatment system with the Freeport’s specific requirements. Representatives from CDC, Clark Water, the Department of Environment and Natural Resources’ Environmental Management Bureau in Region III, Manila Water Infratech Solutions, Hydroguard Systems Corp., and other partners joined the groundbreaking, signaling broad institutional backing for an infrastructure upgrade seen as vital to sustaining Clark’s growth trajectory.
![]()
Hà Nội đang tìm cách đưa khoa học công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực mới cho tăng trưởng, với mục tiêu cài công nghệ vào từng ngành có lợi thế như văn hóa, du lịch, thương mại và làng nghề. Tại hội nghị sơ kết một năm rưỡi triển khai Nghị quyết 57 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Phó bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Văn Phong cho biết thành phố đã cụ thể hóa định hướng này bằng tám nghị quyết chuyên đề mới ban hành trên cơ sở Luật Thủ đô và Nghị quyết 57. Trọng tâm là hình thành các sản phẩm mới như công nghiệp văn hóa, sản phẩm văn hóa số, thương mại điện tử, cùng với hệ thống quản trị đô thị thông minh dựa trên dữ liệu.
Theo ông Phong, một ví dụ cụ thể là ứng dụng hệ thống camera tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để điều khiển tín hiệu giao thông thông minh, dự báo ùn tắc và cảnh báo giao thông thời gian thực. Những hạ tầng này được coi là bước đầu dựng nền tảng dữ liệu phục vụ chỉ huy, điều hành và quản trị đô thị thông minh. Song song với đó, Hà Nội định hướng xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết trường đại học kỹ thuật, viện nghiên cứu với khu công nghệ cao, doanh nghiệp và nhu cầu thị trường; phát triển các "không gian hấp thụ công nghệ" như Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, khu công nghiệp thế hệ mới, sàn giao dịch công nghệ, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) và quỹ đầu tư mạo hiểm.
Ở tầm quốc gia, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhấn mạnh chuyển dịch mô hình tăng trưởng sang dựa trên tri thức, dữ liệu và đổi mới sáng tạo, trong đó khoa học cơ bản được đặt vào vị trí trung tâm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lưu ý những lĩnh vực đang định hình tương lai thế giới như AI, bán dẫn, lượng tử, công nghệ sinh học, vật liệu mới, dữ liệu và năng lượng mới đều khởi nguồn từ các nghiên cứu cơ bản được đầu tư liên tục trong nhiều thập kỷ. Quan điểm này được các chuyên gia như TS. Trịnh Thị Tú Anh coi là bước chuyển tư duy, khi khoa học cơ bản không còn bị nhìn như lĩnh vực tiêu tốn nguồn lực mà là khoản đầu tư chiến lược cho năng lực nội sinh và cạnh tranh dài hạn.
Tuy nhiên, thách thức lớn lại nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Tại một phiên họp chuyên đề của Ban Chỉ đạo Trung ương, lãnh đạo cấp cao chỉ rõ "điểm nghẽn" chính của chuyển đổi số hiện nay không còn ở hạ tầng hay nguồn lực đầu tư, mà ở năng lực thực thi và trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, địa phương. Ở nhiều nơi, chuyển đổi số vẫn bị coi là nhiệm vụ riêng của bộ phận công nghệ thông tin, dẫn tới dữ liệu phân tán, hệ thống thiếu kết nối, dịch vụ công trực tuyến chưa phát huy hiệu quả. Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo và qua các hội nghị sơ kết Nghị quyết 57, khi người đứng đầu chưa coi dữ liệu là tài sản chiến lược, chưa sử dụng nền tảng số trong điều hành hằng ngày, thì khó tạo ra thay đổi trong cả bộ máy và khó hiện thực hóa tham vọng đưa khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng.