Từ Phúc Sinh, Vina T&T đến cảng QTM: Bức tranh logistics Việt Nam dưới sức ép chi phí

05.07.2026


Chi phí logistics leo thang đang trở thành một trong những lực cản lớn nhất đối với năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Tỷ lệ chi phí logistics ước tính chiếm tới 17%-18% GDP, trong đó giá cước vận tải tăng dốc đứng, phụ phí cảng biển và thời gian giao hàng kéo dài khiến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu, nhất là trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm tươi sống, bị bào mòn lợi nhuận. Tại TP.HCM, các doanh nghiệp liên tục phát tín hiệu cảnh báo: nếu không nhanh chóng tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng và tối ưu chuỗi cung ứng, biên lợi nhuận sẽ tiếp tục co lại ngay cả trong bối cảnh doanh thu tăng.

Công ty Cổ phần Phúc Sinh là một ví dụ điển hình cho nghịch lý doanh số tăng nhưng lợi nhuận chịu sức ép. Sáu tháng qua, kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp đạt 230 triệu USD, tăng hơn 25% so với cùng kỳ năm trước. Tuy vậy, chỉ riêng cước tàu mỗi tháng đã tăng từ mức 7-8 tỷ đồng lên 17 tỷ đồng trong tháng 6. Cộng thêm khoảng 5 tỷ đồng phụ phí logistics và phí cảng biển, tổng chi phí logistics lên đến 22 tỷ đồng, tương đương hơn một nửa chi phí vận hành/tháng và “ăn” trên 50% lợi nhuận. Lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng tình trạng phụ thuộc quá lớn vào vận tải đường bộ trong khi kết nối đường sắt, đường thủy còn yếu là nguyên nhân sâu xa khiến chi phí logistics của Việt Nam cao hơn nhiều nước.

Áp lực cũng không kém phần nặng nề với các nhà xuất khẩu trái cây tươi. Vina T&T cho biết vào đầu tháng 5, giá thuê container lạnh để xuất khẩu đã tăng vọt từ 2.800 USD lên 7.800 USD/container, gần gấp ba lần trước đó. Ngay cả khi chấp nhận mức giá mới, doanh nghiệp vẫn phải đặt chỗ từ rất sớm mới có container đóng hàng, làm gia tăng rủi ro chậm tiến độ giao hàng. Trong bối cảnh chờ các dự án hạ tầng lớn về đường sắt, đường thủy phát huy tác dụng, một số doanh nghiệp tại TP.HCM đang chủ động liên kết, ứng dụng mô hình kinh tế chia sẻ để ghép chuyến, tối ưu tải trọng phương tiện, qua đó phần nào kéo giảm chi phí vận tải.

Sức ép hiện tại đặt ra yêu cầu cấp bách về mở rộng và hiện đại hóa hạ tầng cảng biển, logistics. Sáng 5/7, tại khu vực Cái Mép – Thị Vải, phường Phú Mỹ, Công ty Cổ phần Cảng quốc tế QTM đã khởi công Cảng quốc tế QTM với tổng mức đầu tư gần 6.900 tỷ đồng trên diện tích hơn 80 ha. Dự án gồm 8 cầu cảng với tổng chiều dài hơn 1.800 mét, có khả năng tiếp nhận tàu 60.000-100.000 DWT, công suất thiết kế khoảng 16 triệu tấn hàng hóa mỗi năm, kèm hệ thống kho hàng tổng hợp và khu hậu cần logistics gần 200.000 m². Triển khai theo hai giai đoạn đến năm 2034, cảng QTM được định hướng không chỉ là cảng biển đơn thuần mà là hệ sinh thái logistics tích hợp, kết nối cảng, kho bãi, kho lạnh, vận tải, phân phối và dịch vụ giá trị gia tăng.

Lãnh đạo QTM cho biết một trong những định hướng chiến lược của dự án là tập trung phục vụ các ngành công nghiệp nền tảng, đặc biệt là chế biến và sản xuất – nhóm ngành đang bị chi phí logistics bào mòn mạnh. Với vị trí tại cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải, sát cầu Phước An, cảng mới được kỳ vọng tăng năng lực kết nối thương mại, thúc đẩy kinh tế biển và hỗ trợ giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp xuất khẩu thông qua tối ưu hóa khâu xếp dỡ, lưu kho và trung chuyển. Trong dài hạn, sự kết hợp giữa các giải pháp nội tại như liên kết vận tải, tận dụng kinh tế chia sẻ với đầu tư hạ tầng cảng biển, đường sắt, đường thủy được xem là hướng đi then chốt để đưa chi phí logistics Việt Nam về mức cạnh tranh hơn, tạo dư địa cho doanh nghiệp tái đầu tư và mở rộng thị trường.

Other news

Một nền tảng dùng chung: Đà Nẵng gom dữ liệu phường vào ‘trung tâm điều hành số’

05.07.2026


UBND phường Hòa Cường (TP Đà Nẵng) chiều 24/6 công bố vận hành thử nghiệm hệ thống chính quyền số, được thiết kế như một "trung tâm điều hành số" ở cấp cơ sở. Đây là phường đầu tiên tại Đà Nẵng đưa vào sử dụng mô hình này, đồng thời là địa phương được Cục Chuyển đổi số quốc gia lựa chọn tham gia khảo sát phục vụ xây dựng mô hình chuyển đổi số cấp xã trên phạm vi toàn quốc.

Theo Chủ tịch UBND phường Hòa Cường Trương Thanh Dũng, mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên địa bàn rộng, dân số đông, trong khi bộ máy được tổ chức tinh gọn đặt ra yêu cầu rất cao về năng lực quản trị. Từ thực tế đó, phường chọn chuyển đổi số làm khâu đột phá và xây dựng hệ thống chính quyền số trên một nền tảng thống nhất, lấy dữ liệu làm trung tâm, lấy người dân và doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ.

Hệ thống được tổ chức theo hướng "một nền tảng dùng chung", thay thế cách làm việc thủ công, phân tán, thông tin nằm rời rạc ở từng bộ phận, từng cuốn sổ, từng tệp riêng lẻ. Dữ liệu từ nhiều lĩnh vực như quản lý dân cư, hộ kinh doanh, cấp phép xây dựng, an sinh xã hội, y tế, giáo dục, cơ sở lưu trú, trật tự đô thị… được tích hợp về một đầu mối. Lãnh đạo phường có màn hình tổng hợp để theo dõi nhanh các chỉ số quan trọng và tiến độ xử lý công việc, giúp chỉ đạo, giao việc và đôn đốc kịp thời mà không phải chờ tổng hợp báo cáo giấy qua nhiều khâu.

Đối với cán bộ, công chức, mỗi lĩnh vực chuyên môn được gắn với một ứng dụng nghiệp vụ riêng ngay trên hệ thống, cho phép tiếp nhận, tra cứu và xử lý công việc trực tuyến. Dữ liệu chỉ cần cập nhật một lần và được dùng chung cho nhiều mục đích, qua đó giảm nhập trùng, hạn chế sai sót và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ. Quy trình xử lý được chuẩn hóa trên hệ thống, giúp công việc minh bạch, dễ kiểm soát và thuận lợi khi bàn giao, nhất là trong bối cảnh cán bộ có thể luân chuyển.

Với người dân và doanh nghiệp, hệ thống hướng tới tăng mức độ thuận tiện và minh bạch trong tương tác với chính quyền. Thông tin, phản ánh gắn với vị trí cụ thể trên địa bàn có thể được tiếp nhận và xử lý trên nền tảng số; các trợ lý ảo được thiết kế để hỗ trợ tra cứu, hướng dẫn thủ tục hành chính mọi lúc, giúp rút ngắn khoảng cách giữa bộ máy hành chính và nhu cầu thực tế tại khu dân cư, hộ kinh doanh.